Thứ Bảy, 8 tháng 7, 2017

Cách khớp lệnh giao dịch trong Phiên khớp lệnh định kỳ tại Sở Giao dịch Chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh (HOSE)

Giới thiệu về Phiên Giao dịch Định kỳ
– Nếu như mới xem Bảng giá Chứng khoán vào lúc mở cửa vào đầu ngày, ngoài các giá cụ thể con số bạn thấy như 15.55 hay 67.2 thì bạn sẽ thấy có thể cả các ký tự lạ như ATO (Hay ATC ở cuối ngày). Vậy ATO (Hay lệnh ATO) ở đây có nghĩa là gì?Bài viết dưới đây sẽ trình bày Phiên Giao dịch Định kỳ có các lệnh này
Ví dụ Phiên Khớp lệnh Định kỳ Mở cửa sàn HOSE ngày 24/01/2017 với các lệnh như phía trên, trong đó có Lệnh ATO (Link gốc ảnh)
– Bài viết này là bài viết bổ sung cho bài viết Cách xem Bảng giá Chứng khoán Online và nếu bạn chưa xem thì có thể xem trước hoặc cùng bài viết kia. Do có khá nhiều bạn hỏi về cách thức khớp lệnh trong phiên giao dịch định kỳ tại Sở giao dịch Chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh (HOSE) (lệnh ATO Phiên 1 – Phiên mở cửa 9h00 – 9h15 và Lệnh ATC Phiên 3 – Phiên đóng cửa 14h30 – 14h45), đồng thời do ví dụ của HOSE khá đặc biệt nên hơi trừu tượng khó hiểu. Nên mình xin mô phỏng lại dựa trên thực tế khớp lệnh tại phiên 3 của Cổ phiếu Tổng Công ty CP Dịch vụ Tổng hợp Dầu khí (mã chứng khoán là PET) trong phiên giao dịch ngày 07/03/2013. Thông tin bổ sung thêm là bắt đầu từ phiên giao dịch ngày 29/07/2013 thì cùng với việc nới rộng thời gian giao dịch thì Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) cũng thực hiện triển khai thêm phiên đóng cửa – Phiên 2 14h30 – 14h45 với lệnh rất quen thuộc là lệnh ATC của sàn HOSE. Việc đồng nhất ở phiên 3 này là 1 bước chuẩn bị cho việc sáp nhập 2 Sở Giao dịch Chứng khoán của Việt Nam thành 1 nhằm tăng quy mô tạo sự thống nhất cũng như tăng tính cạnh tránh với các Sở giao dịch Chứng khoán các quốc gia khác trong khu vực.
– Một số khái niệm và đặc điểm Phiên này:
Phiên Khớp lệnh Định kỳ khác Phiên Khớp lệnh Liên tục ở chỗ nào: Như đã biết ở trên thì thời gian giao dịch 1 ngày thì Phiên Liên tục luôn chiếm thời gian chính còn Phiên Định kỳ thì khá ít thời gian (15 phút đầu tiên và 15 phút cuối cùng). Trong Phiên Liên tục thì bạn cứ nhìn thấy Giá bên bán giả dụ đang bán 101 như mã MWG (Thế giới Di Động) thì chỉ việc nhập mua cái là mua được ngay lập tức hay thời gian thực. Tuy nhiên trong Phiên Định kỳ thì bạn không thể mua bán ngày được. Giả sử bạn đang vào xem Bảng giá Chứng khoán vào lúc 14h41 phút thứ 2 trong tuần tức là lúc này đang ở Phiên Định kỳ Đóng cửa, bạn nhập 1 lệnh mua cao nhằm mục đích mua được ngay nhưng sẽ không khớp, mà phải đúng đến phút cuối cùng của Phiên này 14h45 thì hệ thống của Sở Giao dịch Chứng khoán mới ghép mua thành công. Tức là việc khớp lệnh của Phiên này giống như là Đấu thấu bên Xây dựng, các bên có thể nộp đơn chào thầu các ngày khác nhau nhưng đúng ngày cuối mới công bố ai là người trúng thầu. Bạn có thể đặt lúc 14h32, bạn khác đặt 14h38, rồi một bạn khác nữa đặt 14h43 nhưng rồi tất cả đều phải khớp lệnh vào lúc 14h45. Đó chính là tính chất của Phiên Định kỳ (15 phút đầu giờ gọi là Phiên Định kỳ Mở cửa và 15 phút cuối gọi là Phiên Định kỳ Đóng cửa).
Lệnh ATO/ATC: được xem là lệnh mua hoặc bán bằng mọi giá trong phiên khớp lệnh định kỳ, trong đó ATO cho phiên mở cửa (Phiên 1), là viết tắt của chữ At-The-Opening order hay dịch về tiếng Việt là Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá mở cửa và ATC là cho phiên đóng cửa (Phiên 3), là viết tắt của chữ At-The-Closing order hay dịch về tiếng Việt là Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá đóng cửa. Về bản chất lệnh mua ATO/ATC giống như lệnh mua trần nhưng còn được ưu tiên xếp trước khi khớp lệnh, và lệnh bán ATO/ATC giống như lệnh bán sàn nhưng còn được ưu tiên xếp trước khi khớp lệnh. Mục đích của việc đưa ra lệnh ATO/ATC nhằm tăng tính thanh khoản của thị trường (Công nghệ của Thái Lan), nguyên tắc khớp lệnh trong phiên định kỳ là 02 bên mua bán cùng đưa ra các lệnh mua bán sau 15 phút thì HOSE sẽ “mở bát” tương tự như đầu thấu / đấu giá, chứ không phải đưa ra lệnh khớp ngay lập tức như Phiên 2 – Phiên khớp lệnh liên tục, Giá Khớp lệnh Phiên định kỳ là giá đảm bảo nguyên tắc khối lượng khớp gặp nhau mua bán là lớn nhất. Khi Giá thị trường giảm thì người mua hay Tổng cầu sẽ nhiều lên vì ai cũng thích mua rẻ hơn nhưng người bán lại ít đi (không ai thích bán rẻ) và ngược lại khi Giá thị trường tăng thì người mua hay Tổng cầu sẽ ít đi vì chả ai thích mua đắt hơn nhưng người bán lại nhiều lên. Như vậy tồn tại 1 mức giá ở đâu đó ở giữa mà 2 bên mua bán cung cầu gặp nhau là nhiều nhất. Đó chính là nguyên tắc khớp lệnh của Phiên này.
Trong ảnh là Ví dụ bên Web của HSC. Ta có thể thấy đặt lệnh ATO / ATC khá đơn giản. Thay vì ghi giá cụ thể như Lệnh thường thì chỉ việc chỉ thẳng 3 chữ ATO hoặc ATC (Link gốc ảnh)
Tính duy nhất 1 giá: Trong cả Phiên Định kỳ mở cửa / đóng cửa chỉ khớp duy nhất 1 giá, ngay cả khi bạn đặt mua giá trần 14.7 hay đặt lệnh mua ATO/ATC nhưng cuối cùng khi lệnh với giá 13.9 thì lệnh mua khớp thật vẫn phải là 13.9 (và ngược lại bán thấp hơn bán giá sàn 12.9 hay ATO/ATC thì vẫn khớp lệnh giá 13.9), việc đặt mua trần, bán sàn hay ATO/ATC chỉ là làm tăng tính ưu tiên trong quá trình ghép lệnh tại HOSE, còn giá khớp chỉ có 1 giá trong phiên đó (Ở đây trong ví dụ dưới là 13.9). Đặt lệnh mua 14.3 tức là tối đa là bạn chấp nhập mua tới giá 14.3, còn thấp hơn thì càng tốt.
Thứ tự ưu tiên khi khớp lệnh: là giá là ưu tiên lớn nhất, tiếp đến là ưu tiên về thời gian (đặt sớm hơn và cùng giá thì sẽ được ưu tiên khớp trước). Như ví dụ bên dưới thì người đặt mua (M3) đặt giá 14 (hết giờ khớp 13.9) với khối lượng 1.000 cổ phiếu dù đặt trước về mặt thời gian nhưng khi so khớp để lấy giá vẫn xếp sau người đặt mua (M2) ở giá 14.1 với khối lượng là 6.000 (lưu ý lại lần nữa là dù đặt 14 hay 14.1 thì vẫn chỉ khớp với giá 13.9 và chi phí bỏ ra mua với người mua M1 là 13.900.000 đồng (1.000 x 13.900) và người mua M2 83.400.000 đồng (6.000 x 13.900) (Ở đây mình tạm chưa tính yếu phí giao dịch vào đây, vì mỗi công ty chứng khoán có 1 biểu phí khác nhau, cũng như từng loại đối tượng khách hàng).
—————————————————————
Ví dụ thực tế về Phiên Giao dịch Định kỳ
Giá tham chiếu của cổ phiếu PET trong ngày 07/03/2013 là: 13.8 (hay 13.800 đồng/ cổ phiếu), nên với biên độ 7% thì giá trần của PET là 14.7 và giá sàn là 12.9. Vào đợt khớp lệnh định kỳ xác định giá đóng cửa (Phiên 3 có giá ATC), có các lệnh mua và bán mô phỏng như sau:
Lệnh mua
Lệnh bán
Giá
Khối lượng
Giá
Khối lượng
ATC
10.000 (M1)
ATC
5.000 (B1)
14.1
6.000 (M2)
13.6
5.000 (B2)
14.0
1.000 (M3)
13.7
2.000 (B3)
13.9
5.000 (M4)
13.8
4.000 (B4)
13.8
8.000 (M5)
13.9
9.000 (B5)
13.7
7.000 (M6)
14.0
20.000 (B6)
Trong đó: M1 là ký hiệu thêm của người mua số 1, M2 là ký hiệu thêm của người mua số số 2, … B1 là ký hiệu thêm của người bán số 1, B2 là ký hiệu thêm của người mua số 2, …
Nguyên tắc khớp lệnh cơ bản phiên định kỳ là: 02 bên Mua Bán (Tức Tổng Cầu và Tổng Cung) gặp nhau nhiều nhất thì Giá khớp lệnh chính là nằm ở đó.
Như vậy, giả sử khi hết giờ, có các lệnh sau được đưa vào hệ thống của HOSE, khi đó hệ thống sẽ được tính toán khớp lệnh như sau (Ở đây mình trình bày tiết tất cả các mức giá theo thứ tự ưu tiên mua thì từ giá cao xuống thấp và bán thì từ giá thấp lên giá cao và bạn cũng có thể xem rõ hơn tại Ví dụ Khớp lệnh Định kỳ tại HOSE – Bản Excel):
Ví dụ Phiên Giao dịch Định kỳ mã PET tại sàn HOSE ngày 07/03/2013 với các lệnh như phía trên (Link gốc ảnh)
Mình xin giải thích nhắc lại một vài điểm quan trọng trong cái bảng trên:
– Lệnh Giới hạn LO (Limited Order): là lệnh phổ biến nhất trên thị trường chiếm 95%, chính là các lệnh ghi số bình thường trên bảng mà bạn đang thấy. Tính giới hạn của lệnh này được thể hiện ở điểm: ví dụ khi bạn đặt mua 14.1 thì nếu có giá thấp hơn đối với lệnh này như giá 13.9 thì càng tốt, khi đó lệnh sẽ khớp với giá 13.9. Còn 14.1 chỉ là thể hiện tối đa cao nhất mình mua giá đó, nếu thị trường khớp giá 14.2 thì mình coi như k mua được và được hoàn tiền về sau khi hết giờ trong ngày. Việc này giống như việc bạn muốn mua chiếc iPhone mới sau khi chiếc điện thoại cũ của bạn bị hỏng, nhớ lại 2 tuần trước thấy đứa bạn thân nó mới mua chiế iPhone mới nhất. Bạn bắt máy gọi điện hỏi giá thì bạn của bạn kêu: “Cái này mới ra và tớ mua giá 19,5 triệu đồng”. Như vậy hành động hỏi tham khảo giá như vậy tương tự như “Giá tham chiếu” trên bảng giá chứng khoán bạn vẫn thấy, và bạn quyết định mang đủ tròn 20 triệu đồng đi. Như vậy hành động mang 20 triệu đồng đi thể hiện tối đa 20 triệu đồng bạn sẽ mua trong lần tới này, còn tất nhiên khi đến chủ cửa hàng đó bảo … 19,2 triệu đồng / chiếc iPhone. Thế thì đương nhiên mình thanh toán 19,2 triệu đồng, chứ không ai lại đưa cả 20 triệu đồng. Đó chính là tính chất của lệnh trong chứng khoán và đây là điểm rất quan trọng trong chứng khoán
– Cột “Cộng dồn khối lượng mua”:
+ Tại mức giá 14.7 bên mua (Giá trần – Giá cao nhất): chỉ có duy nhất giá mua ATO khối lượng 10K của người mua M1 sẵn sàng chấp nhận giá mua này.
+ Tại mức giá 14.6 đến 14.2 bên mua: cũng chỉ có duy nhất giá mua ATO khối lượng 10K của người mua M1 sẵn sàng chấp nhận giá mua này.
+ Tại mức giá 14.1 bên mua: lúc này ngoài người mua M1 giá nào cũng mua thì có người mua thứ 2 cũng chấp nhận mua là chính người đặt đúng tại mức giá mua 14.1 – Người mua M2 với khối lượng 6K. Cộng dồn khối lượng mua hay Tổng cầu tại mức giá 14.1 là: 10K (M1) + 6K (M2) = 16K.
+ Tại mức giá 14.0 bên mua: lúc này ngoài người mua M1 (ATO) và người mua M2 (14.1) với giá 14.1 chấp nhận mua thì giá 14.0 thấp hơn đương nhiên cũng chấp nhận mua. Ta có thêm người mua thứ 3 cũng chấp nhận mua và chính là người đặt đúng tại mức giá mua 14.0 – Người mua M3 với khối lượng 1K. Cộng dồn khối lượng mua hay Tổng cầu tại mức giá 14.0 là: 10K (M1) + 6K (M2) + 1K (M3) = 17K.
+ Tại mức giá 13.9 bên mua: lúc này ngoài người mua M1 (ATO), người mua M2 (14.1) và người mua M3 (14.0) với giá 14.0 chấp nhận mua thì giá 13.9 thấp hơn đương nhiên cũng chấp nhận mua. Ta có thêm người mua thứ 4 cũng chấp nhận mua và chính là người đặt đúng tại mức giá mua 13.9 – Người mua M4 với khối lượng 5K. Cộng dồn khối lượng mua hay Tổng cầu tại mức giá 13.9 là: 10K (M1) + 6K (M2) + 1K (M3) + 5K (M4) = 22K.
+ Tại mức giá 13.8 bên mua: lúc này ngoài người mua M1 (ATO), người mua M2 (14.1), người mua M3 (14.0) và người mua M4 (13.9) với giá 13.9 chấp nhận mua thì giá 13.8 thấp hơn đương nhiên cũng chấp nhận mua. Ta có thêm người mua thứ 5 cũng chấp nhận mua và chính là người đặt đúng tại mức giá mua 13.8 – Người mua M5 với khối lượng 8K. Cộng dồn khối lượng mua hay Tổng cầu tại mức giá 13.8 là: 10K (M1) + 6K (M2) + 1K (M3) + 5K (M4) + 8K (M5) = 30K.
+ Tại mức giá 13.7 bên mua: lúc này ngoài người mua M1 (ATO), người mua M2 (14.1), người mua M3 (14.0), người mua M4 (13.9) và người mua M5 (13.8) với giá 13.8 chấp nhận mua thì giá 13.7 thấp hơn đương nhiên cũng chấp nhận mua. Ta có thêm người mua thứ 6 cũng chấp nhận mua và chính là người đặt đúng tại mức giá mua 13.7 – Người mua M6 với khối lượng 7K. Cộng dồn khối lượng mua hay Tổng cầu tại mức giá 13.7 là: 10K (M1) + 6K (M2) + 1K (M3) + 5K (M4) + 8K (M5) + 7K (M6) = 37K.
+ Tại mức giá 13.6 đến 12.9 bên mua (Giá sàn – Giá thấp nhất): do không có thêm người nào đặt mua giá thấp hơn nên Tổng khối lượng mua vẫn là 37K cho tất cả các mức giá này.
– Cột “Tổng cầu”: chính là tổng khối lượng cộng dồn mua tại từng mức giá từ 12.9 lên 14.7. Ta có thể dễ dàng thấy trên bảng trên.
– Cột “Cộng dồn khối lượng bán”:
+ Tại mức giá 12.9 bên bán (Giá sàn – Giá thấp nhất): chỉ có duy nhất giá bán ATO khối lượng 5K của người bán B1 sẵn sàng chấp nhận giá bán này.
+ Tại mức giá 13.0 đến 13.5 bên bán: cũng chỉ có duy nhất giá bán ATO khối lượng 5K của người bán B1 sẵn sàng chấp nhận giá bán này.
+ Tại mức giá 13.6 bên bán: lúc này ngoài người bán B1 giá nào cũng bán thì có người bán thứ 2 cũng chấp nhận bán là chính người đặt đúng tại mức giá bán 13.6 – Người mua B2 với khối lượng 5K. Cộng dồn khối lượng bán hay Tổng cung tại mức giá 13.6 là: 5K (B1) + 5K (B2) = 10K.
+ Tại mức giá 13.7 bên bán: lúc này ngoài người bán B1 (ATO) và người bán B2 (13.6) với giá 13.6 chấp nhận bán thì giá 13.7 cao hơn đương nhiên cũng chấp nhận bán. Ta có thêm người bán thứ 3 cũng chấp nhận bán và chính là người đặt đúng tại mức giá bán 13.7 – Người bán B3 với khối lượng 2K. Cộng dồn khối lượng bán hay Tổng cung tại mức giá 13.7 là: 5K (B1) + 5K (B2) + 2K (B3) = 12K.
+ Tại mức giá 13.8 bên bán: lúc này ngoài người bán B1 (ATO), người bán B2 (13.6) và người bán B3 (13.7) với giá 13.7 chấp nhận bán thì giá 13.8 cao hơn đương nhiên cũng chấp nhận bán. Ta có thêm người bán thứ 4 cũng chấp nhận bán và chính là người đặt đúng tại mức giá bán 13.8 – Người bán B4 với khối lượng 4K. Cộng dồn khối lượng bán hay Tổng cung tại mức giá 13.8 là: 5K (B1) + 5K (B2) + 2K (B3) + 4K (B4) = 16K.
+ Tại mức giá 13.9 bên bán: lúc này ngoài người bán B1 (ATO), người bán B2 (13.6), người bán B3 (13.7) và người bán B4 (13.8) với giá 13.8 chấp nhận bán thì giá 13.9 cao hơn đương nhiên cũng chấp nhận bán. Ta có thêm người bán thứ 5 cũng chấp nhận bán và chính là người đặt đúng tại mức giá bán 13.9 – Người bán B5 với khối lượng 9K. Cộng dồn khối lượng bán hay Tổng cung tại mức giá 13.9 là: 5K (B1) + 5K (B2) + 2K (B3) + 4K (B4) + 9K (B5) = 25K.
+ Tại mức giá 14.0 bên bán: lúc này ngoài người bán B1 (ATO), người bán B2 (13.6), người bán B3 (13.7), người bán B4 (13.8) và người bán B5 (13.9) với giá 13.9 chấp nhận mua thì giá 14.0 cao hơn đương nhiên cũng chấp nhận bán. Ta có thêm người bán thứ 6 cũng chấp nhận bán và chính là người đặt đúng tại mức giá bán 14.0 – Người mua B6 với khối lượng 20K. Cộng dồn khối lượng bán hay Tổng cung tại mức giá 14.0 là: 5K (B1) + 5K (B2) + 2K (B3) + 4K (B4) + 9K (B5) + 20K (B6) = 45K.
+ Tại mức giá 14.1 đến 14.7 bên bán (Giá trần – Giá cao nhất): do không có thêm người nào đặt bán giá cao hơn nên Tổng khối lượng bán vẫn là 45K cho tất cả các mức giá này.
– Cột “Tổng cung”: chính là tổng khối lượng cộng dồn bán tại từng mức giá từ 12.9 lên 14.7. Ta có thể dễ dàng thấy trên bảng trên.
Phiên Định kỳ Rút gọn lại (Link gốc ảnh)
Mình chụp lại hình và rút gọn lại bằng việc bỏ đi 4 Cột: 2 Cột Cộng dồn Khối lượng Mua – Bán, 2 Cột Người đặt Mua – Bán. Ta dễ dàng thấy vài đặc điểm sau: 
+ Cột “Tổng cầu”: khi giá càng giảm thì cầu càng tăng lên (vì ai cũng thích mua rẻ) và ngược lại
+ Cột “Tổng cung”: khi giá càng giảm thì cung càng ít đi (vì chả ai cũng thích bán rẻ) và ngược lại
+ Quy luật Cung Cầu trên Thị trường Chứng khoán: khi giá tăng lên thì cầu ít đi và cung nhiều lên, còn khi giá giảm xuống thì cầu lại nhiều lên và cung lại ít đi. Như vậy tồn tại ở giữa 1 giá ở đâu đó khiến cho 2 bên Cung – Cầu gặp nhau nhiều nhất và đó chính là Giá thị trường tại Phiên Định kỳ này. Ở đây ta dễ dàng thấy được tại mức giá 13.9 thì Tổng cầu là 22K, còn Tổng cung là 25K nên gặp nhau nhiều nhất là 22K (Như hình) và sau phiên vẫn còn dư 3K bên bán không bán được.
————————————————————— 
Một số lưu ý đặc biệt khác
– Do để đơn giản hóa nên trong ví dụ trên mỗi mức giá mình để 1 người mua hoặc 1 người bán, tuy nhiên trong thực tế, mỗi mức giá sẽ gồm rất nhiều người mua bán, cho nên người nào đặt bán sau cùng (3K sau cùng về mặt thời gian) sẽ bị rớt lại không khớp được (Do bằng giá nên ưu tiên về mặt thời gian đặt lệnh).
– Trong trường hợp đặc biệt hơn là có tới từ 2 mức giá trở lên thỏa mãn điều kiện khối lượng khớp cung cầu là lớn nhất và lại bằng nhau thì khi đó với phiên 3 (đóng cửa/ATC), mức giá được chọn khớp lệnh là mức giá trùng hoặc gần với giá khớp lệnh gần nhất, thường là lệnh cuối cùng trong phiên 2 (Phiên khớp lệnh liên tục), còn với phiên 1 thì trùng hoặc gần với giá tham chiếu nhất sẽ được lựa chọn, trường hợp đặc biệt hơn trong phiên 1 này là mức chênh lệch lúc này so với tham chiếu cũng bằng nhau chả hạn cách tham chiếu 0.2 lúc này là 13.6 và 14 thì khi đang ghép lệnh trong 15 phút đầu giờ phiên mở cửa, giá dự kiến ghép ban đầu đang 14, lúc sau có thêm 1 số lệnh bán xuống, khiến cho mức giá 13.6 cũng có khối lượng thực khớp ngang với giá 14, thì khi đó giá 14 sẽ là giá khớp lệnh (ưu tiên thời gian).
– Vẫn có 1 số bạn thắc mắc 1 chút là tại sao ATO ATC thì giá mặc định mua/bán là trần/sàn rùi thì sao lại có mức giá (Giá khớp) ở đây nhỉ?Mình xin giải thích rõ hơn là khi bạn ra quyết định đặt mua ATO chả hạn thì có nghĩa là bạn muốn thể hiện ý muốn mua bằng được, kể cả là giá khớp cuối cùng là giá trần, vì mua ATO được ưu tiên khớp trên cả mua giá trần mà, tuy nhiên đó là trong ưu tiên, còn khi khớp thực tế, chúng ta chỉ khớp thực tế theo giá khớp mà thôi, trong ví dụ trên nếu ta thấy người mua M1 có đặt mua 10K giá ATO, tức là họ sẵn sàng mua kể cả giá là 14.7 nhưng thực tế chỉ khớp là giá 13.9 và chi phí thanh toán đặt mua thực tế cuối cùng của họ sẽ chỉ là 13.900 (13.9) x 10.000 (10K) = 139.000.000 đồng ,không phải 147 triệu đồng, tất nhiên khi ra lệnh như thế số tiền trong tài khoản của họ ít nhất phải có 147.000.000 đồng thì mới ra được lệnh mua ATO có thể bị chi phí cao nhất là mua giá trần 14.7. Về phía bán cũng thế, đặt bán ATO nhưng chưa nhất định phải khớp giá sàn 12.9, mà lại là giá khớp 13.9. Hay kể cả là không phải là lệnh ATO ATC đi nữa, ví dụ người mua M2 đặt mua 6K giá 14.1 thì không có nghĩa là họ nhất sẽ chỉ được mua giá đó, mà đó là giá cao nhất họ chấp nhận có thể mua, họ có thể mua giá 14.1 hay 14 hay 13.9 hay 13.8 … 12.9 , ví dụ thực tế khớp 13.9 thì có nghĩa giá khớp thực của họ là 13.9 và chi phí mua 6K này sẽ là 13.900 (13.9) x 6.0000 (6K) = 83.400.000 đồng (Bán cũng ngược lại như vậy).
————————————————————— 
Khớp lệnh vẫn ví dụ trên – Phiên Giao dịch Định kỳ nhưng có thêm 1 lệnh bán
– Giả sử vẫn có các lệnh như ở trên, tuy nhiên bên bán giờ có thêm người bán thứ 7 với giá 13.7 và Khối lượng bán 10K. Lúc này ta có các lệnh mua và bán mô phỏng như sau:
Các Lệnh Mua bán với ví dụ thêm Lệnh bán (Link gốc ảnh)
Khi đó Hệ thống sẽ tính toán khớp lệnh như sau: (Bạn có thể xem rõ hơn tại Ví dụ Khớp lệnh Định kỳ tại HOSE – Bản Excel (Thêm lệnh bán)):
Vẫn Ví dụ Phiên Giao dịch Định kỳ mã PET tại sàn HOSE ngày 07/03/2013 nhưng có thêm lệnh bán (Link gốc ảnh)
Ta có thể dễ dàng thấy rằng do tăng lượng bán giá thấp (Người bán 7 bán giá 13.7 Khối lượng 10K) nên Giá Khớp lệnh đã bị rơi xuống từ 13.9 còn 13.8. Khối lượng khớp lệnh cao nhất lúc này là 26K (Thay vì 22K như trường hợp gốc).
—————————————————————
Khớp lệnh vẫn ví dụ trên – Phiên Giao dịch Định kỳ nhưng có thêm 1 lệnh mua
– Giả sử vẫn có các lệnh gốc như ở trên cùng, tuy nhiên bên mua giờ có thêm người mua thứ 7 với giá 14.1 và Khối lượng bán 10K. Lúc này ta có các lệnh mua và bán mô phỏng như sau:
Các Lệnh Mua bán với ví dụ thêm Lệnh mua (Link gốc ảnh)
Khi đó Hệ thống sẽ tính toán khớp lệnh như sau: (Bạn có thể xem rõ hơn tại Ví dụ Khớp lệnh Định kỳ tại HOSE – Bản Excel (Thêm lệnh mua)):
Vẫn Ví dụ Phiên Giao dịch Định kỳ mã PET tại sàn HOSE ngày 07/03/2013 nhưng có thêm lệnh mua (Link gốc ảnh)
Ta có thể dễ dàng thấy rằng do tăng lượng mua giá cao (Người mua 7 mua giá 14.1 Khối lượng 10K) nên Giá Khớp lệnh đã bị tăng lên từ 13.9 lên 14.0. Khối lượng khớp lệnh cao nhất lúc này là 27K (Thay vì 22K như trường hợp gốc).

$$ y òn $$
8/7/2017
(nguồn : Chứng khoán Online )

Thứ Ba, 28 tháng 3, 2017

KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRÊN TTCK

1. Mệnh giá?
- Mệnh giá là số tiền ghi trên tờ cổ phiếu hay tờ trái phiếu khi phát hành. Hiện nay, theo quy định: cổ phiếu có mệnh giá là 10.000 đồng, trái phiếu có mệnh giá tối thiểu là 100.000 đồng.
2. Thị giá?
- Thị giá là giá thị trường của các loại chứng khoán được mua – bán trên thị trường giao dịch tập trung.
- VD: Mệnh giá của cổ phiếu HAG là 10.000 đồng, nhưng giá thị trường hiện tại của cổ phiếu HAG và thời điểm ngày 11/01/2015 là 14.000 đồng / Cổ phiếu.
3. Giá niêm yết?
- Giá niêm yết là mức giá của cổ phiếu được thực hiện trong phiên giao dịch đầu tiên khi lên niêm yết trên thị trường chứng khoán và được hình thành dựa trên quan hệ cung - cầu trên thị trường.
- VD: Cổ phiếu HAG khi lên niêm yết trên thị trường giao dịch tập trung, giá niêm yết được xác định là 14.000 đồng/ cổ phiếu.
4. Giá khớp lệnh?
- Giá khớp lệnh là mức giá được xác định từ kết quả khớp lệnh của Trung tâm giao dịch chứng khoán, thoả mãn được tối đa nhu cầu của người mua và người bán chứng khoán.
- VD: Trong phiên giao dịch ngày 11/01/2015, giá khớp lệnh của cổ phiếu HAG đạt ở mức giá 14.000 đồng/ cổ phiếu. Tất cả những ai có lệnh mua hoặc lệnh bán được khớp sẽ được mua và bán với giá 14.000 đồng/ cổ phiếu HAG
5. Giá đóng cửa?
- Giá đóng cửa là giá thực hiện tại lần khớp lệnh cuối cùng trong ngày giao dịch.
- VD: Giá đóng cửa của cổ phiếu HAG trong phiên giao dịch ngày 11/01/2015 chính là mức giá khớp lệnh của cổ phiếu đó là 14.000 đồng / cổ phiếu.
6. Giá mở cửa?
- Giá mở cửa là giá đóng cửa của phiên giao dịch hôm trước.
- VD: Giá mở cửa của cổ phiếu HAG vào phiên giao dich ngày 11/01/2015 là 14.000 đồng/cổ phiếu.
7. Giá tham chiếu?
- Giá tham chiếu là mức giá làm cơ sở cho việc tính giới hạn dao động giá chứng khoán trong phiên giao dịch.
- Tại thị trường giao dich tập trung hiện tại ở Việt nam thì giá tham chiếu của một phiên giao dịch là giá đóng cửa của phiên giao dịch hôm trước.
- VD: Giá tham chiếu của cổ phiếu HAG vào ngày 11/01/2015 là mức giá đóng cửa của phiên giao dịch ngày 11/01/2015 là 14.000 đồng/ cổ phiếu.
8. Biên độ giao động giá?
- Biên độ giao động giá là giới hạn giá chứng khoán có thể biến đổi tối đa trong phiên giao dịch so với giá tham chiếu.
- VD: Giá tham chiếu của cổ phiếu HAG ngày 11/01/2015 là 14.000 đồng / cổ phiếu, biên độ giao động giá theo quy định hiện hành đối với tất cả các loại cổ phiếu là +/- 7% tức là giá của cổ phiếu HAG thực hiện trong phiên giao dịch chỉ được phép giao động trong khoảng +/- 7% so với giá 14.000 đồng.
9. Giá trần ?
- Giá trần là mức giá cao nhất mà một loại chứng khoán có thể được thực hiện trong phiên giao dịch.
Giá trần = Giá tham chiếu + (Giá tham chiếu x Biên độ dao động giá)
- VD: Giá trần của cổ phiêu HAG trong phiên giao dịch ngày 11/01/2015
Giá trần = 14.000 + (14.000 x 7%) = 15.200 đồng.
10. Giá sàn?
- Giá sàn là mức giá thấp nhất mà một loại chứng khoán có thể được thực hiện trong phiên giao dịch.
Giá sàn = Giá tham chiếu - (Giá tham chiếu x Biên độ dao động giá)
- VD: Giá sàn của cổ phiếu HAG trong phiên giao dịch ngày 11/01/2015
Giá sàn = 14.000 - (14.000 x 7%) = 12.900 đồng.
11. Đơn vị giao dịch?
- Đơn vị giao dịch là số lượng chứng khoán nhỏ nhất có thể được khớp lệnh tại hệ thống. 
- Đơn vị giao dịch còn được gọi là lô chẵn. Hiện nay, theo quy định, lô chẵn là lô giao dịch có số lượng từ 10 đến 9.990 cổ phiếu. Giao dịch lô chẵn được thực hiện theo phương thức giao dịch khớp lệnh định kỳ tại thị trường giao dịch tập trung.
12. Đơn vị yết giá?
- Đơn vị yết giá là đơn vị tiền tệ nhỏ nhất mà giá chứng khoán có thể thay đổi.

Mức giá .........................................Cổ phiếu.............Trái phiếu
Giá dưới 49.900 đ................................100 đ..................100 đ
Giá từ 50.000 đ đến 99.500 đ................500 đ..................100 đ
Giá trên 100.000 đ............................1.000 đ..................100 đ
- VD: 
+ Nếu giá ≤ 49.900 đ, thì có các mức giá: 20.000đ, 20.100đ.... 49.900đ nhưng không có các mức giá: 20.050đ, 20.150đ.... 49.910đ.
+ Nếu giá từ 50.000đ đến 99.500đ, thì có các mức giá: 50.500đ, 51.000đ..... 99.500đ, không có các mức giá 50.100đ, 51.900đ..... 99.400đ.
+ Nếu giá ≥ 100.000 đ, thì có các mức giá: 100.000đ, 101.000đ, 102.000đ...., không có các mức giá 100.500đ, 101.400đ hay 102.900đ.
13. Ngày thanh toán ?
- Ngày thanh toán theo quy định của Trung tâm giao dịch chứng khoán là ngày T + 3, tức là 03 ngày làm việc sau ngày lệnh được thực hiện (không kể ngày Lễ, ngày nghỉ) có nghĩa:
- Khi lệnh mua chứng khoán được thực hiện, sau 03 ngày chứng khoán mới được chuyển về tài khoản của khách hàng. Khi chứng khoán về tới tài khoản thì bạn mới có các quyền đối với số chứng khoán đó.
- Khi lệnh bán chứng khoán được thực hiện, sau 03 ngày tiền bán chứng khoán sau mới được chuyển về tài khoản của khách hàng. 
14. Ngày giao dịch hưởng cổ tức?
- Ngày giao dịch hưởng cổ tức là ngày mà nhà đầu tư mua cổ phiếu trên thị trường sẽ được hưởng cổ tức của công ty phát hành.
15. Ngày giao dịch không hưởng cổ tức?
- Ngày giao dịch không hưởng cổ tức là ngày mà nhà đầu tư mua cổ phiếu trên thị trường sẽ không được hưởng cổ tức.
 
-----Y ÒN------
28/03/2017

Thứ Năm, 30 tháng 6, 2016

Các chiến lược đầu tư cổ phiếu hiệu quả

8 kỹ sảo giao dịch trên Thị trường Chứng khoán
"Kỹ xảo giao dịch trên TTCK" là cụm từ dùng để chỉ hành vi của nhà đầu tư (NĐT) dày kinh nghiệm sử dụng cách giao dịch khớp lệnh hiện hành (trên Trung tâm Giao dịch chứng khoán TP. HCM) để đạt mục tiêu bán cổ phiếu (CP) với giá cao hoặc mua CP với giá thấp. Với NĐT "non nghề", việc nhận diện ra các kỹ xảo giao dịch là rất cần thiết để tránh bị "sập bẫy". Với cơ quan quản lý, nhiều kỹ xảo giao dịch dưới đây có thể coi như những minh chứng sống động cho hành vi làm giá đã và đang diễn ra trên TTCK.





                                                                                                                                                                                                                               1. Bán Cổ phiếu giá sàn tạo tâm lý hoảng loạn:

Đây là cách mà NĐT lớn thường sử dụng khi họ muốn mua CP ở giá rẻ hơn so với giá thị trường. NĐT này sẽ chủ động bán CP giá sàn ào ạt ở tài khoản A để tạo tâm lý hoảng loạn nơi các NĐT nhỏ. Trước hiện tượng tranh bán, NĐT nhỏ thường suy luận rằng, chắc công ty phát hành có tin xấu nên người ta mới bán tháo CP và nhao nhao bán ra theo giá sàn. Khi đó, NĐT lớn sẽ dùng tài khoản B hay C (trong hệ thống tài khoản của mình) ung dung mua lại số CP do chính mình vừa đặt bán và thu mua thêm CP của các NĐT khác bán ra ở giá rẻ. Khi NĐT lớn thấy lượng CP cần mua đã mua đủ, họ sẽ dừng "diễn kịch".
2. Mua Cổ phiếu giá trần tạo tâm lý hưng phấn:
Khi muốn bán được CP ở giá cao, "đại gia" lại thường sử dụng chiêu bài dùng tài khoản A đặt mua ào ạt CP ở giá trần, nhằm tạo tâm lý hưng phấn cho các NĐT khác. Khi thấy một lượng lớn CP được đặt mua giá trần, nhiều người cho rằng, chắc là công ty phát hành có tin tốt, nên người ta mới dám mua cao như thế và cũng đặt mua ào ào theo giá trần. Khi đó, "đại gia" sẽ dùng tài khoản B bán dần CP ra ở giá thấp, với số lượng bán lớn hơn số lượng đặt mua ở tài khoản A. Ví dụ, mua 30.000 CP ở tài khoản A, bán 50.000 CP ở tài khoản B, nhờ đó NĐT sẽ bán được 20.000 CP ở giá tốt. Vài hôm sau, NĐT này "ngừng diễn", giá CP sẽ đứng hoặc đi xuống, ai mua theo bị thiệt thòi.

Thực tế, có những phiên giao dịch xuất hiện 2 hiện tượng trên, nhưng lại không phải là kỹ xảo của NĐT lớn tạo ra mà do tác động của thông tin thật. Để phân biệt được khi nào TTCK chịu tác động của kỹ xảo giao dịch, khi nào chịu tác động của thông tin thật, đòi hỏi NĐT phải có kinh nghiệm và bản lĩnh. Quan sát trên sàn giao dịch cho thấy, nhiều NĐT thiếu kinh nghiệm chơi chứng khoán ngắn hạn đã bị thua liểng xiểng chỉ vì không nhận biết được các kỹ xảo giao dịch.
Hai kỹ xảo nói trên có thể giúp NĐT lớn trục lợi, nhưng cũng có thể bị hoá giải nếu một "đại gia" khác "biết bài" và đối lại cách mua, bán của NĐT lớn. Cụ thể, kỹ xảo bán giá sàn có thể hoá giải bằng cách đặt mua ngay giá trần sẽ khiến NĐT lớn bán CP giá sàn bị mua mất ngay số CP không muốn bán. Kỹ xảo mua giá trần cũng sẽ bị hoá giải nếu có "đại gia" khác bán ngay CP giá sàn, trường hợp này NĐT lớn đặt mua giá trần sẽ phải mua ngay số CP không mong muốn.
3. Bán chặn giá trên:
Kỹ xảo này cũng nhằm mục đích mua rẻ, nhưng nhẹ tay hơn kỹ xảo 1. "Đại gia" muốn mua CP giá rẻ, nhưng hoàn cảnh thị trường không cho phép thực hiện kỹ xảo 1, sẽ bán ra số lượng CP rất lớn ở tài khoản A ngay từ đầu giờ ở giá tham chiếu chẳng hạn. Trong khi ở tài khoản B, "đại gia" này chỉ đặt mua CP với lượng vừa phải và đặt giá dưới tham chiếu. Thế là ai muốn bán phải tranh bán dưới giá tham chiếu và số CP bán dưới giá tham chiếu này sẽ dễ dàng "sa bẫy" của "đại gia".
4. Mua chặn giá dưới
Kỹ xảo này nhằm bán được giá cao, song nhẹ tay hơn kỹ xảo 2. Ngay từ đầu giờ giao dịch, NĐT lớn đặt mua số lượng lớn CP ở giá tham chiếu tại tài khoản A và đặt bán số lượng nhỏ ở giá cao hơn giá tham chiếu tại tài khoản B. Thấy lượng cung ít quá so với lượng cầu, những NĐT nhỏ lao vào đặt mua giá cao để mua bằng được sẽ bị "mắc bẫy" vì ở một tài khoản khác, NĐT lớn đã trực sẵn lệnh bán lượng lớn CP với giá cao.
Các kỹ xảo 1, 2, 3, 4 nói trên làm môi trường giao dịch CP mất đi sự lành mạnh và NĐT nhỏ là người chịu thiệt thòi nhất.
5. "Rải đinh" che giá mua thật:
NĐT lớn hay nhỏ đều có thể dùng kỹ xảo này để mua được giá tốt nếu không muốn mua trần. Đặt 3 lệnh ở 3 mức giá cao nhất, mỗi lệnh chỉ mua 1 lô, ví dụ 1 lô mua tại giá 35.000 đồng, 1 lô mua giá 34.900 đồng và 1 lô mua giá 34.800 đồng. Khi đó toàn bộ các lệnh mua khác bị che khuất, vì bảng điện tử chỉ cho phép hiện 3 mức giá mua cao nhất. Phía sau những thông số giả trên bảng điện là cuộc đấu trí thú vị giữa các NĐT. Có khi phần thắng lại thuộc về người không chủ động "rải đinh". NĐT nước ngoài kinh doanh trên TTCK Việt Nam cũng học được cách "rải đinh", song họ có tiềm lực tài chính mạnh, nên thường "rải đinh" to như mua 100 lô tại giá 27.000 đồng; 100 lô tại 26.900 đồng và 100 lô tại 26.800 đồng.
6. "Rải đinh" che giá bán thật:
Ngược lại với "rải đinh" mua, cách "rải đinh" bán được thực hiện như sau: NĐT đặt bán ở 3 mức giá sàn thấp nhất, ví dụ bán 1 lô giá 32.200 đồng, 1 lô giá 32.300 đồng, 1 lô 32.400 đồng, khiến các lệnh bán khác bị che lấp hoàn toàn. NĐT lớn hay nhỏ đều có thể dùng kỹ xảo này để bán được giá tốt, nếu không muốn bán giá sàn.
Khi gặp kỹ xảo "rải đinh", NĐT nên để ý giá khớp dự kiến. Nếu muốn mua, nên đặt trên giá khớp dự kiến 300 đồng đến 500 đồng là có thể mua được. Nếu muốn bán, nên đặt giá bán dưới giá khớp dự kiến 300 đồng đến 500 đồng là có thể bán được. Tuy nhiên, khi có NĐT nào đó hứng lên đặt mua CP ngay giá trần hoặc bán CP ngay giá sàn thì kỹ xảo 5 và 6 hoàn toàn mất tác dụng.
7. "Rải đinh" để khớp mua giá thấp:
Khi TTCK không "nóng" thì kỹ xảo này rất có tác dụng. Kỹ xảo này có đặc điểm là không đặt mua tất cả lượng CP muốn mua ở một mức giá, mà rải ra vài mức giá. Đây là sự lợi dụng nguyên tắc so sánh các sổ lệnh để khớp lệnh ở mức giá gần nhất. Ví dụ, bên bán có 5.000 CP bán ở giá sàn 24.900 đồng; nếu bên mua đặt 2.000 CP giá trần 27.500 đồng thì thị trường sẽ khớp giá tham chiếu 26.200 đồng. Song nếu bên mua lại đặt mua 1.500 CP giá trần 27.500 đồng; 200 CP ở giá 27.400 đồng; 200 CP ở giá 27.300 đồng và 100 CP ở giá sàn 24.900 đồng thì người mua sẽ được mua giá sàn.
8. "Rải đinh" để khớp bán giá cao:
Có trường hợp CP khớp giá 33.600 đồng, nhưng vẫn còn dư mua tại giá 44.100 đồng. Trong trường hợp này, nếu người bán tinh ý thực hiện "rải đinh" ở giá bán 44.100 đồng thì CP đó sẽ chuyển sang khớp tại giá 44.100 đồng. Người bán sẽ bán được CP với giá cao hơn 500 đồng so với cách không dùng kỹ xảo. Do đó, khi muốn bán CP, nên quan sát đặt nhiều mức giá để khớp được giá tốt nhất.
Kỹ xảo 7 và 8 đòi hỏi NĐT phải nhanh mắt và có trí nhớ tốt để "rải đinh" chuẩn xác. Các kỹ xảo 5, 6, 7, 8 nhằm giúp NĐT mua, bán CP theo giá tốt nhất và không gây hại cho môi trường đầu tư.
Một số chiến thuật của những nhà kinh doanh cổ phiếu lớn tại thị trường Mỹ.
Những chiến thuật này được đúc kết trong cuốn “Lessons from the Greatest Stock Traders of All Time” - tạm dịch “Những bài học từ những nhà kinh doanh cổ phiếu thành công nhất” của John Boik, và cuốn “The 21 rrefutable Truths of Trading”, tạm dịch “21 sự thật về kinh doanh cổ phiếu” của John Hayden.
Chiến thuật kinh doanh “không cảm xúc” và “phân tích cơ bản” của Bernard Baruh Bernard Baruh, xuất thân là nhân viên văn phòng của một công ty môi giới chứng khoán, là một nhà kinh doanh cổ phiếu thành công. Ông kiếm được bộn tiền nhờ vào dự đoán sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Mỹ vào năm 1907 và 1929. Không chỉ là một nhà kinh doanh cổ phiếu thành công, ông còn làm việc cho chính phủ của Tổng thống Woodrow Wilson.
Bernard Baruh quan niệm rằng thị trường chứng khoán phản ảnh tình hình kinh tế, chứ thị trường chứng khoán không quyết định được nền kinh tế. Và ông cũng tin tưởng mãnh liệt rằng, kết quả kinh doanh được quyết định bởi tâm lý của những người kinh doanh cổ phiếu. Ông sử dụng cái đầu “lạnh”, chứ không để cảm xúc len vào khi kinh doanh chứng khoán. Ông là người đầu tiên đưa ra chiến lược phân tích cơ bản trong kinh doanh. Trong đó ông nhấn mạnh đến ba yếu tố: độ lớn tài sản của công ty, giá trị của sản phẩm đối với người mua, và năng lực của ban lãnh đạo, trong việc chọn cổ phiếu của mình.
Chiến thuật “Kim tự tháp” và “Thăm dò” của Jess Livermore
Jess Livermore, xuất thân từ nhân viên của một công ty chứng khoán, là người có những chuỗi thành công và cả thất bại lớn trên thị trường kinh doanh chứng khoán. Ông cũng kiếm được cả núi tiền nhờ vào việc tiên đoán sự sụp đổ của thị trường vào năm 1907 và 1929. Tuy vậy, năm 1940, ngay sau khi ông viết cuốn sách nổi tiếng “How to Trade in Stocks”, ông bị thất bại, phá sản và tự tử.
Chiến thuật “Kim tự tháp” do ông phát triển: mua vào nhiều hơn những cổ phiếu đang tăng giá và bán ra những cổ phiếu đang rớt giá, là một trong những chiến thuật được các nhà kinh doanh cổ phiếu áp dụng cho đến bây giờ.
Chiến thuật thứ hai là chiến thuật “Thăm dò”. Trong chiến thuật này ông sẽ thực hiện việc mua có tính cách thăm dò một số cổ phiếu. Sau một thời gian ngắn, dựa vào hiệu quả lợi nhuận của những cố phiếu thăm dò này, hoặc là ông bán hẳn; còn không thì sẽ mua thật nhiều để đưa vào kim tự tháp của mình.
Jess Livermore, cũng giống như phần lớn các nhà kinh doanh cổ phiếu lớn khác, quyết định dựa vào nghiên cứu và phân tích của bản thân, chứ ít khi dựa vào tư vấn của các chuyên gia, hay các công ty tư vấn.
Chiến thuật “kinh doanh tập trung” và “hành động nhanh” của Gerald M. Loeb
Thừa hưởng một lượng tài sản lớn, Gerald Loeb có nhiều thuận lợi hơn các nhà kinh doanh, đầu tư khác.
Một điều khá lý thú là vào năm khi Benjamin Graham - một trong những “ông tổ” về đầu tư, viết cuốn “Phân tích chứng khoán”, kêu gọi các nhà đầu tư mua cổ phiếu và giữ lại để được nhận giá trị thật của cổ phiếu trong tương lai, thì Gerald M. Loeb viết cuốn “Chiến đấu cho sự tồn tại trên trị trường chứng khoán” với quan điểm hoàn toàn đối nghịch.
Ông quan niệm rằng, các nhà kinh doanh phải hết sức năng động trong việc mua bán, và thị trường là chiến trường. Trái với quan điểm truyền thống của đầu tư là đa dạng hóa danh mục đầu tư, chiến thuật của ông là “kinh doanh tập trung”, tức là chỉ mua một số loại cổ phiếu sau khi đã lựa chọn kỹ càng và chấp nhận rủi ro của những cổ phiếu đó.
Chiến thuật thành công thứ hai của ông là “hành động nhanh”. Ông luôn quyết định mua và bán thật nhanh trước khi những diễn biến lớn xảy ra.
Chiến thuật “Kỹ thuật và cơ bản” và “lý thuyết hộp” của Nicolar Darvas
Nicolar Darvas là một nhà kinh doanh nghiệp dư. Nghề nghiệp chính của ông là vũ công. Thế nhưng, với sự tập trung cao độ vào kinh doanh, ông đã kiếm được 2 triệu đô la, đó là số tiền lớn vào những năm 50 của thế kỷ trước.
Ông là người phát triển lý thuyết hộp. Theo lý thuyết này, giá cổ phiếu lên và xuống trong những giới hạn nhất định, và tạo ra một cái “hộp”. Đến một thời điểm nào đó, giá của cổ phiếu sẽ vượt qua cái hộp này, và tạo ra một cái “hộp” mới. Mua vào những cổ phiếu ngay giai đoạn nó thoát ly cái hộp cũ sẽ tạo ra những lợi nhuận cao.
Ông cũng là người đề ra phương pháp phân tích kỹ thuật - phối hợp với cơ bản. Tuy quan tâm cả hai, nhưng ông nghiêng về yếu tố kỹ thuật - chuyển động của giá, và số lượng cổ phiếu mua bán - hơn là yếu tố cơ bản - tình hình kinh doanh và năng lực quản lý cảu nguồn vốn
Chiến lược CANSLIM của William J. O’Neil
Xuất thân là một người môi giới chứng khoán, William O’Neil trở thành nhà kinh doanh thành công và vẫn tiếp tục kinh doanh cho đến bây giờ.
Ông là người sáng lập tờ Investor’s Business Daily và viết nhiều sách về đầu tư và kinh doanh cổ phiếu. Ông là người phát triển lý thuyết kinh doanh chứng khoán gọi là CANSLIM. Theo lý thuyết này của ông, giá một cổ phiếu sẽ chuẩn bị tăng khi có một hay nhiều đặc điểm sau đây:
C - Current Quarter: Lợi nhuận trong quí tăng trưởng ít nhất 25%.
A - Annual Earning: Lợi nhuận năm tăng trưởng so với ba năm trước ít nhất 25%.
N - New Factors: Yếu tố mới, chẳng hạn sản phẩm mới, quản lý mới.
S - Supply and Demand: Khi lượng cổ phiếu giao dịch tăng cao.
L - Leader or Laggard: Giá cổ phiếu đi theo khuynh hướng những cổ phiếu hàng đầu.
I - Institutional Sponsorship: Khi các nhà đầu tư tổ chức mua và sở hữu.
M - Market Direction: Khi có 75% số cổ phiếu trên thị trường đi theo xu hướng của nó.
Những điểm quan trọng
Mặc dù những nhà kinh doanh thành công có những chiến thuật, chiến lược khác nhau nhưng họ chia sẻ những điểm chung sau:
- Cần có một khoản tiền dự trữ đề phòng những rủi ro. Khoản dự trữ này sẽ giúp nhà kinh doanh tiếp tục kinh doanh chứ không thụ động phụ thuộc vào kết quả của những “phi vụ trước.
- Cắt lỗ càng sớm càng tốt. Khi đã lỡ mua cổ phiếu bị xuống giá, cắt ngay. Không bao giờ giữ cố phiếu đang giảm giá và chờ giá sẽ cao trở lại.
- Mua giá cao và bán giá cao hơn. Để kinh doanh thành công, không chỉ là mua thấp bán cao, mà còn là mua giá cao và bán ra cao hơn.
- Đôi khi rút khỏi thị trường. Không phải lúc nào nhà kinh doanh cũng thành công, mà phải biết rút khỏi thị trường.
O’Neil, Darvas và Loeb thường không thích tham gia thị trường đang xuống giá, trong khi đó Livermore lại không tham gia khi thị trường đều đặn, bình ổn.
- Mua tập trung chứ không nên đa dạng hóa danh mục đầu tư.
- Quan tâm đặc biệt đến khối lượng giao dịch và giá. Đối với những nhà kinh doanh cổ phiếu, hai chỉ số này quan trọng hơn bất cứ chỉ số nào, kể cả P/E, các loại tỷ suất lợi nhuận.
- Sau khi thực hiện các phi vụ, phải bỏ thời gian phân tích để rút kinh nghiệm, tại sao mình thua hay thắng phi vụ đó.
- Cống hiến toàn thời gian. Để kinh doanh thành công, phải dành công sức, thời gian. Ngay cả trường hợp Darvas là vũ công nhưng cũng dành một thời gian lớn hàng ngày (trên 8 tiếng) để theo dõi và thực hiện việc kinh doanh.
- Thực hiện các cuộc nghiên cứu phân tích độc lập, các nhà kinh doanh cổ phiếu thành công phải biết tự nghiên cứu và phân tích, không nên dựa vào ý kiến tư vấn của người khác.
- Quyết định dựa vào dữ kiện, không dựa vào cảm xúc. Ví dụ như nhà kinh doanh không tiếc khi phải bán ra cổ phiếu, không quá mừng rỡ mà bán lúa non khi giá cổ phiếu vẫn còn đang lên.
- Quan trọng nhất là phải chấp nhận rủi ro. Một chiến lược đầu tư gọi là hiệu quả khi có thể giảm thiểu rủi ro và tăng cao lợi nhuận. Trong khi đó, các chiến lược kinh doanh hầu như phải chấp nhận mức rủi ro cao vì chính rủi ro cao đó là nguồn gốc của lợi nhuận cao. Nhà kinh doanh vì vậy phải chấp nhận những phi vụ thất bại, và đừng nên kỳ vọng rằng lúc nào họ cũng thắng được thị trường.
                                                                                                                      30-06-2016  ////////////////////////y òn/////////////